Ở quán, câu hỏi này xuất hiện gần như mỗi tuần, thường từ khách miền Nam hoặc khách du lịch. Cả hai loại đều là hạt của cây họ cau dừa, đều trong, đều ăn mát, nên nhầm là chuyện dễ hiểu. Nhưng khi đã cầm hai loại trên tay một lần thì khó nhầm lại.
Ba điểm khác biệt nhìn là thấy
1. Kích thước và hình dáng
Hạt đác nhỏ, dài chừng một đốt ngón tay út, hình bầu dục hơi dẹt, hai đầu thuôn. Hạt thốt nốt to hơn hẳn, tròn trịa và dày mình hơn, nhiều khi to gần bằng quả trứng cút. Đây là điểm dễ nhận nhất: bày cạnh nhau, hạt thốt nốt luôn nổi bật vì to.
2. Độ giòn
Hạt đác giòn sần sật, cắn vào có tiếng, chắc thịt và dai nhẹ. Hạt thốt nốt mềm và dẻo, ăn giống thạch, gần như tan trong miệng, không có độ sần. Nếu chỉ được chọn một dấu hiệu duy nhất thì đây là dấu hiệu chắc chắn nhất.
3. Độ trong
Hạt đác tươi màu trắng đục, đục hẳn chứ không trong. Hạt thốt nốt trong hơn nhiều, nhìn xuyên được ánh sáng, ruột hơi có màu ngà nhạt. Sau khi rim thì hạt đác cũng trong hơn lúc tươi, nhưng vẫn không trong bằng thốt nốt.
Bảng so sánh đầy đủ
| Tiêu chí | Hạt đác | Hạt thốt nốt |
|---|---|---|
| Cây cho hạt | Cây đác (còn gọi búng báng, đoác), mọc hoang trong rừng | Cây thốt nốt, trồng nhiều thành hàng |
| Vùng phổ biến | Khánh Hòa, Phú Yên và vùng Nam Trung Bộ | An Giang, Kiên Giang và vùng Tây Nam Bộ |
| Kích thước | Nhỏ, bằng khoảng một đốt ngón tay út | To hơn nhiều, tròn dày |
| Màu khi tươi | Trắng đục hơi ngà | Trắng trong |
| Kết cấu | Giòn sần sật, chắc thịt | Mềm dẻo, giống thạch |
| Vị nguyên bản | Gần như không có vị | Ngọt nhẹ tự nhiên |
| Cách dùng phổ biến | Rim với đường và trái cây, cho vào chè, ăn với sữa chua | Ăn tươi, nấu chè, làm nước giải khát |
| Bảo quản | Rim rồi để ngăn mát, hoặc cấp đông khi còn tươi | Ăn tươi là ngon nhất, để lâu dễ chua |
Vì sao hai loại hay bị nhầm
Có ba lý do rất thực tế:
- Cùng họ cây. Cả cây đác và cây thốt nốt đều thuộc họ cau dừa, quả kết thành buồng, hạt nằm trong quả.
- Cùng vai trò trong món ăn. Cả hai đều được dùng làm phần giòn hoặc phần mát trong ly chè, nên người ăn dễ gộp chung.
- Tên gọi vùng miền. Ở một số nơi, người bán gọi chung chung là hạt chè, hạt trong, khiến người mua càng khó phân biệt.
Ngoài ra còn một loại nữa hay bị gộp vào là hạt của cây dừa nước, cũng trong và mềm, phổ biến ở miền Tây. Loại này gần với thốt nốt hơn là gần với hạt đác.
Nhận biết khi hạt đã rim trong hũ
Khó nhất là lúc hạt đã rim, đã lên màu, nằm trong hũ. Lúc đó nhìn màu không ăn thua, phải nhìn vào ba thứ khác:
- Kích thước tương đối giữa các hạt. Hũ đác rim có các hạt nhỏ đều nhau; hạt thốt nốt rim luôn to hơn thấy rõ.
- Hình dáng. Đác thuôn hai đầu, thốt nốt tròn đầy.
- Cắn thử. Sần sật có tiếng là đác. Mềm mượt tan trong miệng là thốt nốt.
Mẹo mua hàng: hỏi thẳng người bán hạt lấy từ vùng nào. Người bán hạt đác thật gần như luôn trả lời được là đác Khánh Hòa hoặc Phú Yên, vì đó là chuyện họ làm mỗi ngày.
Nên chọn loại nào cho món gì
- Muốn có độ giòn để nhai: chọn hạt đác. Đây là lý do gần như mọi món chè Nha Trang đều dùng đác.
- Muốn vị ngọt mát tự nhiên, ăn mềm: chọn thốt nốt, hợp món chè lạnh miền Tây.
- Muốn làm topping cho trà, sữa chua: hạt đác rim hợp hơn vì giữ được kết cấu sau khi ngâm lâu trong chất lỏng.
- Muốn ăn ngay không qua chế biến: thốt nốt, vì hạt đác tươi không có vị.
Cả hai đều ngon theo cách riêng. Chỉ là khi chị/anh muốn cái tiếng sần sật đặc trưng của chè Nha Trang thì chỉ hạt đác mới cho được.
Câu hỏi thường gặp
Hạt đác và hạt thốt nốt cái nào ngon hơn?
Không có cái nào ngon hơn, chỉ có hợp hay không hợp với món. Hạt đác cho độ giòn sần sật và hút vị rim rất tốt, hạt thốt nốt cho vị ngọt mát tự nhiên và kết cấu mềm.
Hạt đác có phải là hạt dừa nước không?
Không. Hạt dừa nước mềm và trong, gần với thốt nốt hơn, phổ biến ở miền Tây. Hạt đác nhỏ, chắc, giòn và gắn với vùng Nam Trung Bộ.
Vì sao hạt đác đắt hơn?
Vì đác là cây rừng, không trồng đại trà, lại phải nướng hoặc luộc cả buồng quả rồi tách từng hạt bằng tay. Chi phí lớn nhất nằm ở công tách hạt.
Chè Nha Trang dùng hạt đác hay thốt nốt?
Gần như luôn là hạt đác, vì Khánh Hòa là vùng có nguồn đác dồi dào và nghề rim đác lâu đời.